Hiển thị các bài đăng có nhãn Quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Ở ĐÂU SẼ LÀ BÀN CỜ ĐỂ MỸ-TRUNG TỶ THÍ ?

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017 | comments

Xin nói rõ là va chạm Mỹ-Trung ở đây không có nghĩa là Mỹ và Trung Quốc đánh nhau trực tiếp như thời các cường quốc trong Thế Chiến 2, mà là đối đầu nhau qua 1 trung gian thứ 3. 

Mỹ (hoặc Trung) dùng một nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương làm vùng đệm và trái độn để nắn gân nhau và khẳng định ưu thế khu vực để giới hạn không cho chiến tranh lan rộng ra, cũng như đạt được mục đích chính trị của hai bên "khẳng định sức mạnh của mình để trấn an và lôi cuốn đàn em", là đủ.
1/ Nước nào sẽ là trái độn ?
4 nước theo tôi là Đài Loan, Nhật Bản, Philipin và Việt Nam là 4 nước có khả năng cao nhất được lựa chọn, và chúng ta sẽ lần lượt phân tích dưới đây:
- Đài Loan: Theo tôi thì Đài Loan khó được lựa chọn, thứ nhất là vấn đề Đài Loan và Trung Quốc là chung dân tộc, thứ 2 là nói gì thì nói, Mỹ đã tuyên bố ủng hộ chính sách Đài Loan và Trung Quốc là "Một Trung Quốc". Mỹ ủng hộ Đài Loan va chạm với Trung Quốc thì sẽ mất đi tính chính nghĩa. Tiếp theo là bản thân chính phủ Đài Loan chỉ muốn kháng Trung ở mức vừa đủ để giữ tự chủ, họ không muốn đẩy vấn đề đi xa hơn. Với các vấn đề như thế, Mỹ sẽ coi Đài Loan tiếp tục là sinh tử phù trong Trung Quốc hơn là đưa nước này ra làm tốt thí.
- Nhật Bản: Theo tôi Nhật Bản vẫn không được lựa chọn. Nhật là một cường quốc, tuy không bằng Mỹ và Trung nhưng cũng có tư thể ngẩng cao đầu của mình, sẽ không chấp nhận vấn đề tốt thí. Thứ 2 là lâu nay Mỹ vẫn coi Nhật là đồng minh thân cận, thay mặt Mỹ coi ngó vùng Đông Á và Châu Á nói chung, nếu Mỹ quyết định đem Nhật ra tỷ thí có thể đẩy Nhật ra xa Mỹ, có khi mất nhiều hơn được.
Chưa kể yếu tố quan trọng nữa là Nhật còn có chính sách Đại Đông Á riêng của họ, họ không dễ dàng để Mỹ chọn mình là con cờ thí trước một Trung Quốc chưa hề tổn thương và sứt mẻ lúc này. Có thể Nhật sẽ đứng ra trong một ván cờ khác, nhưng là chuyện về sau, ở cuộc đối đầu thứ 2 hay thứ 3, thì phù hợp với họ hơn.
- Philippin : những cuộc "chống Mỹ và chửi Mỹ" dữ dội của tổng thống Duterte hẳn nhiên không làm Mỹ khoái. Trong chiến lược triển khai quân sự để phá sách lược bành trướng lưỡi bò của Trung Quốc thì cảng Subic của Philipin và cảng Cam Ranh của Việt Nam có vai trò quan trọng nếu kết nối với nhau.
Sẽ là mô hình tuyệt vời cho Mỹ nếu VN và Philipin có thể là đồng minh canh cửa, nhưng e rằng khó trong thực tế. Tuy nhiên xét về tính bền vững, thì việc Philipin "thân Trung" hiện nay chỉ là do vấn đề của 1 tổng thống trong một thời kỳ chứ không phải là chính sách xuyên suốt lâu dài của một thể chế. Nên nếu đặt lên bàn cân để dùng làm tốt thí, thì khả năng Mỹ chọn Philipin vẫn thấp hơn khả năng Mỹ chọn Việt Nam.
Mỹ chỉ việc nhùng nhằng với Trung Quốc ở nước này, chờ cho ông Duterte hết cầm quyền thì có thể tính một tổng thống khác để đưa Philippin trở về với Mỹ, dễ dàng hơn rất nhiều so với chuyện chuyển hóa VN.
2/ Việt Nam có nguy cơ bị thí rất cao
Như đã nói, Mỹ và đồng minh luôn đánh giá cao khả năng của dân tộc Việt Nam với nhiều nghìn năm tranh đấu chính trị với Trung Quốc một khi Việt Nam đạt đến sự cân bằng chính sách và thoát khỏi "vòng kim cô ý thức hệ XHCN anh em" với Trung Quốc. Nhưng chưa bao giờ Mỹ có thể chuyển hóa đảng CSVN trở nên đủ để cân bằng ảnh hưởng.
Từ khi người khai mở cho chính sách thân phương Tây trong đảng CSVN là nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt cho đến hết nhiệm kỳ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì chính sách này bị đứt khúc, ghế thủ tướng chuyển sang phái thân Trung Quốc cầm nắm, quyền lực áp đảo làm cho đường lối thân Mỹ có nguy cơ lớn bị đứt đoạn.
Người được Mỹ tiếp tục bắt tay là chủ tịch nước Trần Đại Quang hiện nay thì rõ ràng không ở vị trí thủ tướng để có thể chuyển hóa Việt Nam nhanh hơn như Mỹ và tư bản mong muốn. Ông Trần Đại Quang dù có nhiều nỗ lực để tăng quyền cho mình hòng xoay sở, nhưng e rằng không thể đạt đến tầm mức đẩy VN chuyển hóa nhanh như các đời thủ tướng trước đây.
Nếu xu hướng chuyển hóa VN của Mỹ đang dần dần giảm sút thế và lực bên trong đảng CSVN, còn có lựa chọn nào khác hơn là Mỹ sẽ đặt đảng CSVN trước số phận hoặc là con cờ thí, hoặc là chuyển hóa để giữ vai trò trung lập thật sự để đủ tầm dẫn dắt Asean kháng Trung. VN phải có lựa chọn một là bị thí, hai là đóng vai trò quan trọng hơn trong khu vực ở tương lai bằng chính việc tự chuyển hóa của mình.
Dư luận cần chú ý là các điều kiện cần để Mỹ dùng Việt Nam là trái độn đã có về mặt quân sự. Năm 2015, Tư Lệnh Lục Quân Thái Bình Dương, đại tướng Vincent Brooks, đã thăm Việt Nam. Trước đó là Tư Lệnh Không Quân Thái Bình Dương, đại tướng Gary North cũng thăm Việt Nam, kèm theo nhiều chuyến thăm, khảo sát..của các tướng lãnh quân Mỹ khác, kể cả Tổng Tham Mưu Trưởng Martin Dempsey.
Cú chốt sau cùng là cuộc "trưng cầu dân ý nhân dân VN" về tấm lòng đối với Mỹ, thông qua chuyến thăm của tổng thống Obama. Mỹ phải xác định vấn đề quan trọng nhất là kịch bản "ăn cơm quốc gia..."sẽ không tái diễn lại một lần nữa.
Kèm theo đó là các thương vụ bán vũ khí cho Việt Nam của các nước "không ưa gì TQ" như Israel, Ấn Độ, Nhật Bản..trong suốt 10 năm qua, đã đưa Việt Nam lên thứ 17 trong bảng xếp hạng quân sự thế giới.
Đòn hăm he đẩy VN ra làm chốt thí có thể giúp Mỹ chuyển hóa VN nhanh hơn, tiếp tục kế hoạch kênh đào Kra và tạo ưu thế lâu dài cho VN đủ sức cầm ngọn cờ Asean kháng Trung, nhất cử tam tứ tiện như thế, nếu tôi là Mỹ tôi cũng sẽ làm.
Về phía VN, tôi e rằng cũng khó mà né tránh. Năm 2018, một khi Hunsen mất quyền lực ở Campuchia sau bầu cử mới thì cái sườn Tây Nam của VN cũng sẽ không yên, phía Bắc và biển Đông thì Trung Quốc áp sát, còn có cửa chạy về đâu.
Nhật Hoàng thăm VN tới đây phải chăng là thông điệp dân tộc Nhật và Việt sẽ sát cánh bên nhau trong ván cờ này, nhưng Việt đi trước Nhật đi sau.
Hơi nóng từ những cây nhang của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng viếng ông Lê Duẩn hôm nay cũng chính là hơi thở của thần chiến tranh đang phả đến.
Kỳ tới : Ai sẽ cùng Mỹ và chạm với Trung Quốc và khi nào điều đó xảy ra.
NAD

TRUMP - TỔNG THỐNG VĨ ĐẠI HAY KẺ ĐỐT ĐỀN ?

| comments

Xin nói rõ là bài viết này viết theo thông tin riêng không có cách gì kiểm chứng và là đánh giá chủ quan của mình, để các bạn tham khảo, nó không phải là một bằng chứng / thông tin để đánh giá chính sách của Mỹ.

Như đã phân tích trong bài viết trước, chúng ta hoàn toàn có thể thấy rõ Mỹ và các tổng thống Mỹ vẫn có lúc ra quyết định sai lầm. Chúng ta cũng có thể thấy rõ chưa chắc các chính khách chỉn chu, được đào tạo bài bản lại có thể ra quyết định tốt hơn những người tuy chưa kinh qua trường lớp chính trị nhưng có tầm nhìn tốt (Eisenhower và Patton là bằng chứng)
Để giải quyết sai lầm do mình tạo ra khi nhường Đông Âu cho Liên Xô, Mỹ phải bỏ Đông Dương và bắt tay với Trung Quốc để kềm chế Liên Xô. Không có kẻ mạnh số 1 nào muốn có kẻ số 2 mạnh gần bằng mình để nhăm nhe soán ngôi mình. Sự bắt tay đó đã góp thêm phần cơ hội cho Trung Quốc trỗi dậy. Sau một thời gian liên Trung kháng Nga, Nga đã suy yếu đi nhưng thay vào đó là Trung Quốc vươn lên đe dọa lợi ích của Mỹ.
Quần chúng Mỹ có thể thích bà Clinton và bỏ phiếu bầu cho bà nhiều hơn Trump, nhưng các Đại Cử Tri của Mỹ, với tầm nhìn xa hơn, tôi cho là họ thấy rằng với chính sách kháng cả Nga lẫn Trung của Mỹ do bà Clinton thúc đẩy sẽ chẳng mang lại hiệu quả cao nên họ đã chọn Trump. Mỹ dù mạnh, cũng không dễ xoay sở khi Nga và Trung bắt tay, như chúng ta đã thấy rõ việc này dưới thời Obama.
Trump có một phần phong thái của tướng Patton năm xưa, đó là không bàn bạc nhiều, thấy cần thiết, có lợi ích là ra quyết định. Trong một thế trận bùng nhùng rối rắm như cục diện biển Đông và bàn cờ thế giới hiện nay, những tố chất đó là cần thiết để có thể giành giật thắng lợi và tranh thủ lợi ích. Quyết đoán, sát phạt, dám ra quyết định và chịu trách nhiệm chính là điều kiện cần để thoát khỏi đám bùng nhùng, còn thành công hay thất bại là việc khác.
Trump là người dù chưa kinh qua trường lớp và kinh nghiệm hoạt động chính trị, nhưng dĩ nhiên ở tầm của ông ta, việc giao thiệp với các chính khách lớn của thế giới và có một bộ tham mưu giỏi về chính trị để mang lại cho ông ta tầm nhìn lớn là điều chắc chắn. Những người không thích Trump cần chú ý điều này.
Trump là người tiền bạc đã có quá nhiều, vợ đẹp con xinh viên mãn, nên tôi cho rằng Trump có động cơ cuối cùng là lưu danh trong chính trị mạnh mẽ. Việc ông ta có quyết tâm đi vào lịch sử nước Mỹ và lịch sử thế giới là điều có thể thấy rõ. Và muốn làm điều đó, không gì tốt hơn là "mượn Trung Quốc là bàn đạp". Không gì tuyệt vời hơn đối với 1 tổng thống Mỹ hiện nay nếu ông ta dẫn dắt nước Mỹ tát cho kẻ số 2 là Trung Quốc 1 cú mạnh để đè kẻ số 2 lùi xuống.
Là một doanh nhân ở tầm toàn cầu, Trump thừa hiểu chiến tranh kinh tế-thương mại với Trung Quốc với đặc thù hàng giá rẻ của nó là một điều khó khăn (có thể nói là vô vọng). Trung Quốc từ sau đống hoang tàn đổ nát kinh tế dưới thời Mao mà chỉ mất 30 năm để vươn lên ảnh hưởng kinh tế toàn cầu thì đè nén kinh tế nó có phải là biện pháp khả thi không ? Việc sổ toẹt TPP (hoặc tạm dừng nó lại) là một bằng chứng cho thấy suy nghĩ của Trump về điều này.
Mỹ cũng đã thất bại trong việc gây ảnh hưởng khu vực Asean nói riêng và châu Á nói chung bằng sức mạnh mềm của họ. Mặc dù khối Asean do Mỹ hậu thuẫn ra đời để dùng kềm chế Trung Quốc về kinh tế và cả chính trị-quân sự ngay từ khi Trung Quốc còn yếu kém nhưng cũng đã thất bại.
Trong 10 nước Asean hiện nay, Mỹ thua 6 con bài quan trọng, trong đó lá bài chủ mà Mỹ trông đợi là Việt Nam thì chưa bao giờ thân Mỹ ở mức đủ để Mỹ trông cậy, tín nhiệm và hợp tác. Asean chỉ đủ mạnh để đối kháng với Trung Quốc một khi có Việt Nam cầm lá cờ đầu, tiếc thay điều này với chính sách cũ của Mỹ và lá bài TPP thì còn quá xa xôi.
Là một doanh nhân nổi tiếng với các quyết định mạo hiểm, và đã làm trong thực tế khiến Trump lên voi xuống chó, nhiều lần phá sản và khôi phục là điều chúng ta cần nhớ. Điều này làm cho tôi nghĩ rằng Trump không khoái đánh các bàn cờ lâu dài kiểu như TPP hay tiếp tục gây ảnh hưởng để chuyển hóa Việt Nam như chính sách 30 năm nay của Mỹ. Tôi cho là Trump nghĩ rằng nó quá lâu và mất thời gian, Mỹ không còn đủ thời gian để chờ đợi như thế.
Quyền lực nước Mỹ nằm ở Quốc Hội chứ không chỉ ở Tổng Thống, nhưng tôi nghĩ rằng một khi các Đại Cử Tri đã hiểu Trump đủ để ủng hộ Trump làm tổng thống, thì họ cũng sẽ dễ dàng thông qua các chính sách mà Trump thúc đẩy tới đây.
Một khi từ bỏ đường lối dùng chiến tranh kinh tế để đối đầu với Trung Quốc, từ bỏ đường lối chuyển hóa các nước châu Á và Asean để chờ nó bắt tay với mình thì chỉ còn đường lối dùng quân sự. Và như loạt bài "con chốt Việt Nam đứng đâu trong bàn cờ mới Trung-Mỹ" mà tôi viết trước đây, điều này coi bộ đã dần thành hiện thực với chính phủ mới và các hoạt động của Mỹ "từ khi có Trump"đến nay.
Tuy nhiên đường lối dùng quân sự để đẩy Trung Quốc lọt khỏi ghế số 2 , để chuyển hóa Việt Nam (lẫn các nước Asean khác) theo Mỹ nhanh hơn là một cuộc cờ mạo hiểm. Nó có thể làm Mỹ thắng nhanh và thua nhanh. Trump có thể đi vào lịch sử nước Mỹ như một tổng thống vĩ đại khi giành ưu thế như đề ra, hoặc bị nguyền rủa như một kẻ đốt đền nếu Mỹ thất thế. Trump đủ chiều sâu để đón nhận cả hai.
Kỳ tới : Việt Nam, Đài Loan, Nhật, Philipin, ở đâu sẽ là chiến trường tỉ thí ?

NAD

MỸ VẪN CÓ NHỮNG LÚC DẠI DỘT VÀ SAI LẦM

| comments

Nước Mỹ và thế giới đã bắt đầu xáo trộn từ khi Trump thắng bầu cử và chính thức bước vào ghế tổng thổng. Người thì khen kẻ thì chê khắp nơi trên thế giới. Ngay cả như Việt Nam , trong đảng và trong nhân dân vẫn có nhiều luồng quan điểm khác nhau về Trump và Mỹ thời kỳ mới này.

Một góc nhìn đa diện về Mỹ là cần thiết vì Trump muốn chưa chắc là Mỹ muốn, và ngược lại. Muốn nhìn Mỹ và Trump tới đây, phải nhìn Mỹ từ trong quá khứ trong bước ngoặt phân chia lần 1 bàn cờ thế giới.
1/ "Ike, ông sẽ phải hối hận về quyết định hôm nay"
Đó là câu nói của tướng George Smith Patton Jr. (11 tháng 11, 1885 – 21 tháng 12, 1945) khi phê bình quyết định của đại tướng tổng tư lệnh các lực lượng đồng minh Dwight David "Ike" Eisenhower (về sau trở thành tổng thống Mỹ) khi ông này ra lệnh cho Patton dừng lại trước cửa ngõ Đông Âu và Đức để nhường cho Hồng Quân Liên Xô vào trước liên quân Anh-Mỹ.
Patton và Eisnhower là bạn thời trai trẻ. Một người về sau là đại tướng tổng tư lệnh liên quân đồng minh, một người là tư lệnh binh đoàn số 5 của Mỹ. Tướng Patton là người chống cộng sản, chống chủ trương thân Liên Xô của Mỹ thời kỳ thế chiến 2 nên ít được nhắc đến, dù ông mới chính là vị tướng tài ba nhất trong số các tướng lĩnh tài ba của quân đồng minh lúc đó. Ông chiến thắng tướng Đức Rommel, ông hành quân giải phóng châu Âu từ trận Normandie, ông nhanh chân hơn cả nguyên soái Stalin của Liên Xô và tư lệnh Montgomery của quân Anh.
Patton dẫn dắt quân Mỹ đánh thắng quân Đức ở Bắc Phi do tướng Rommel lãnh đạo. Vượt sông Seine giải phóng Pháp trước cả Montgomery của Anh. Binh đoàn 5 của Patton, dù không được tiếp liệu đầy đủ từ Bộ tư lệnh đồng minh do sự nhân nhượng của Eisenhower, vẫn tới Đông Âu trước cả quân Anh và Liên Xô.
Eisenhower đã ra lệnh cho Patton dừng lại, nhường Liên Xô vào giải phóng Đông Âu trước. Khi đó Patton đã phản đối dữ dội quyết định này, ông gọi quyết định này của Eisenhower là "sai lầm lịch sử" và "nước Mỹ sẽ phải trả giá nhiều lần cho quyết định đó", "hãy tiếp liệu cho tôi, binh đoàn 5, nếu cần, sẽ đánh tan cả Hồng Quân Liên Xô nếu chúng dám tranh giành châu Âu với Mỹ"
Đến biên giới của Đức cũng thế, Patton dù là người đến trước nhưng cũng phải dừng lại theo quyết định của Eisenhower. Một lần nữa Patton lại phê phán và chỉ trích Ike Eisenhower dữ dội. Chính vì thế mà sau khi Thế Chiến 2 kết thúc, Eisenhower và Mỹ đã cho Patton nghỉ hưu và không muốn ai nhắc nhiều về ông.
2/ "Patton, tôi thật lòng xin lỗi"
Sau khi Patton về hưu và mất, Eisenhower Ike trở thành tổng thống Mỹ và đã khá vất vả để ngăn chặn ngọn cờ đỏ của cộng sản Liên Xô và khối Đông Âu cắm tràn lan trên thế giới. Khi đó chính sách kháng Liên Xô của Mỹ mới thiết lập, nhưng đã phải trả giá quá nhiều, và rồi về sau nữa phải bắt tay với Trung Quốc để kềm chế Liên Xô khi Mỹ muốn sắp xếp lại bàn cờ thế giới.
Làm tổng thống Mỹ 8 năm (20 tháng 1 năm 1953 – 20 tháng 1 năm 1961) rồi về hưu, sau đó trong một lần viếng mộ người bạn quân ngũ Patton, cựu tổng thống Mỹ Ike Eisenhower đã cởi cái nón đang đội đặt trên mộ bạn mình và nói "Patton, tôi thật lòng xin lỗi" (I am sorry, I am so sorry)
Dù đã dẫn dắt Mỹ giành nhiều lợi ích và chiến thắng phe Trục trong tư cách tổng tư lệnh các lực lượng đồng minh. Ike Eisenhower chưa bao giờ trở thành vĩ đại vì quyết định sai lầm của ông khi để Mỹ chậm chân trước Liên Xô trong vấn đề Đức và Đông Âu dù Patton đã cho ông 3 lần cơ hội để đi vào lịch sử.
Nhắc lại chuyện xưa để thấy ngay cả tổng thống Mỹ cũng có những bước ngoặt để trở thành vĩ đại và đi vào lịch sử, hoặc là kẻ đốt đền với quyết định cá nhân của mình.
Trump, rồi ông sẽ trở thành tổng thống vĩ đại hay kẻ đốt đền ?
NAD
Kỳ sau : TRUMP- TỔNG THỐNG VĨ ĐẠI HAY KẺ ĐỐT ĐỀN ?

BÀN CỜ DONALD TRUMP - TẬP CẬN BÌNH

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016 | comments

Trong binh pháp, khi muốn thắng (hay muốn chiếm ưu thế) mà không tổn thất nhiều quá,người ta "giăng lưới ba góc" và mở một góc còn lại để chừa cho nhau con đường lùi để còn đàm phán.

Chiến thuật của Mỹ do Donald Trump đang triển khai với Trung Quốc mang hơi hướm như vậy.
1/ "liên Nga kháng Trung"
Góc lưới đầu tiên chính là chính sách "liên Nga kháng Trung" của Mỹ mà chúng ta thấy rất rõ nhằm phân hóa quan hệ đồng minh Nga-Trung đang trở nên chặt chẽ lâu nay. Nga mặc dù ngày nay chỉ còn là gã khổng lồ chân đất sét, nhưng thêm bạn bớt thù luôn là giải pháp chính trị khôn ngoan mà ai cũng lựa chọn.
Nhân vật có mối quan hệ thân thiết với Putin là ông Rex Tillerson , chủ tịch kiêm CEO của tập đoàn Exxon Mobil được Trump đề cử đảm nhiệm chức Ngoại trưởng, có thể mang hàm ý “liên Nga kìm Trung”, Mỹ không những dỡ bỏ cấm vận Nga, mà còn tiến tới nhiều quan hệ hợp tác mật thiết, với trọng điểm chính là kìm chế một Trung Quốc đang thách thức quyền lực cũa Mỹ, nhất là ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương.
2/ Đài Loan và Hong Kong
Góc lưới thứ hai là Đài Loan và tôi dự đoán là có cả Hong Kong với sự tham gia của Anh sau sự kiện Brexit. Các động thái gửi máy bay chiến đấu tới Biển Đông và tuyên bố đưa hàng không mẫu hạm tới Thái Bình Dương của đại sứ Anh tại Mỹ cho thấy việc tái lập liên minh nhằm phân chia ảnh hưởng quốc tế của Anh là bằng chứng.
Dự đoán là trong tương lai 2-5 năm tới, Đài Loan dưới chính sách thúc đẩy của Mỹ và Hong Kong dưới sự thúc đẩy của Anh sẽ gia tăng nhiều hoạt động làm Tập Cận Bình không thích và "ăn ngủ không yên". Một khi Anh thúc đẩy Hong Kong tranh đấu với Bắc Kinh lần nữa, sẽ không dừng lại ở những cây dù như lần trước đây.
Xét về mặt lợi ích quốc gia của Mỹ, trong lúc Philippines đang ngả về phía Bắc Kinh, cánh cửa Biển Đông dần khép lại, vì thế dùng một Đài Loan vốn có quân lực mạnh hơn để thay thế Philippines, khiến Đài Loan một lần nữa tái quân sự hóa không phải là điều không tưởng.
Tuy nhiên vấn đề một khi vì Đài Loan về sau mà quan hệ Mỹ-Trung căng thẳng sẽ làm Đài Loan trở nên thận trọng. Dù muốn về với vòng tay của Mỹ, nhưng Đài Loan hẳn nhiên hiểu rằng không bao giờ vì mình mà Mỹ và Trung va chạm quận sự với nhau. Đài Loan chỉ thúc đẩy chính sách gần Mỹ đủ để làm Trung Quốc cảm thấy mất kiểm soát, nhưng sẽ không đi quá xa để Trung Quốc cảm thấy mất mặt mà ra tay hành động quân sự quyết liệt.
3/ Asean và TPP
Tuy nhiên về mặt chính trị quốc tế, sự chống đối Bắc Kinh của hai nơi này vẫn có những hạn chế của nó vì vấn đề họ vẫn thuộc về CHND Trung Hoa, nên góc lưới này mở ra vẫn chưa thể làm khó Trung Quốc đủ để lôi Trung Quốc vào bàn đàm phán theo tư thế có lợi cho Mỹ và phương Tây nên dĩ nhiên Trump ( và Mỹ) không thể bỏ qua những quân cờ Asean và TPP.
Mở lại góc lưới Đài Loan, Mỹ cho thấy đã chán Asean với những quốc gia độc tài tư bản hoang dã ( như Việt Nam) hoặc dân chủ nửa mùa ( như Thái Lan, Campuchia, Philiipin...). Tuy vậy chán thì chán nhưng dùng thì dùng, ngựa què không mang đi chinh chiến thì vẫn có giá trị kéo cối xay lúa ở nhà.
Mặc dù rất khó để diễn tả chính sách kiểu này, tuy nhiên có thể mô tả nôm na chính sách Mỹ-Asean sắp tới sẽ là "Mỹ và Asean cùng làm", chứ không đơn thuần là chỉ mình Mỹ hô hào còn các nước Asean thò tay cửa sau nhận tiền Trung Quốc và ừ à với Mỹ ở cửa trước. Mỹ thò chân giò thì Asean phải rót rượu nếu còn muốn có chỗ ngồi trên bàn tiệc. Cụ thể và chi tiết, chứ còn là những tuyên bố chung chung.
TPP mang giá trị giữ gìn 11 đồng minh xung quanh để làm lợi cho Mỹ và cho cả 11 nước đó về kinh tế và giá trị địa chính trị cùng Mỹ kềm chế Trung Quốc nên Trump và Mỹ sẽ không bỏ. Tuy nhiên Trump sẽ sửa đổi nó chi tiết và thẳng thắn hơn, kiểu tôi làm gì thì ông làm gì, chứ không phải vì có những ông dị dạng và dị biệt như Việt Nam mà Mỹ chấp nhận nuông chiều và cho ngoại lệ.
4/ Góc lưới thứ tư mở ra
Tất cả 3 góc lưới trên chính là cái Mỹ đang giăng ra để vây bức Trung Quốc phải hạ nhiệt ở Biển Đông và Châu Á nói chung, tuy nhiên như đã nói, nó chỉ nhằm dồn Trung Quốc vào bàn đàm phán theo kiểu có lợi cho Mỹ, góc lưới thứ tư mà Trump mở ra cho Trung Quốc chính là chuyến công du của Henry Kissinger gặp Tập Cận Bình.
Trong chính trị, vừa đánh vừa đàm, bao vây chừa 1 cửa để cho nhau con đường lùi luôn là điều các cường quốc lựa chọn. Chỉ là Việt Nam, lẽ ra đã trở thành quân xe trong bàn cờ địa chính trị khu vực thì đã tự mình biến mình thành con tốt và có thể bị thí bất kỳ lúc nào, nếu một khi các con cờ nhỏ khác cùng tầm với Việt Nam tự làm họ quan trọng hơn lên để lôi kéo sự quan tâm của các tay cờ lớn.
Bảo thủ và giáo điều cứng nhắc, chủ hòa kiểu "cho mượn đường diệt Quắc" theo tư duy Trần Ích Tắc không bao giờ là giải pháp khôn ngoan cho Việt Nam trong bàn cờ sắp tới mà Trump-Tập sẽ đánh.
Nguyễn An Dân 18/12/2016

Lincoln và bên thắng cuộc

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014 | comments


Một cuốn sách khảo sát và tổng hợp các sự kiện lịch sử trong 4 tháng sau cùng của cuộc đời Tổng Thống Mỹ Lincoln (Tác giả: Doris Kearns Goodwin‘s ; tên sách, Team of Rivals: The Political Genius of Abraham Lincoln). Thời điểm là tháng giêng năm 1865, vào những ngày cuối của cuộc Nội Chiến Bắc Nam (Civil War); đã kéo dài 4 năm và đã tổn phí 600,000 sinh mạng của lính 2 bên.


Lãnh tụ của bên thắng cuộc

Lúc này, phần thắng coi như đã trong tầm tay của miền Bắc (đội Union). Miền Nam (đội Confederate) đang xin thương thuyết một cuộc đầu hàng với vài lá bài còn lại. Cho những ai chưa quen thuộc với cuộc Nội Chiến, nguyên nhân bắt đầu là sự xóa bỏ chế độ nô lệ trong xã hội Mỹ. Kinh tế miền Nam, chủ yếu là đồn điền nông trại, rất cần các nô lệ từ Phi Châu để điều hành. Sự giải phóng nô lệ (một loại tài sản) sẽ tạo mất mát và khủng hoảng kinh tế sâu rộng; trong khi miền Bắc không chịu ảnh hưởng kinh tế này nên chỉ muốn tiến tới một xã hội công bằng và nhân quyền của mọi người được tôn trọng hơn.
Lincoln vừa thắng cử nhiệm kỳ hai và được cử tri bình dân yêu chuộng nhờ tài hùng biện trên các diễn đàn và lối sống giản dị; trong khi các tầng lớp thượng lưu của giới chánh trị và tư bản không mặn mà với những tư duy tiến bộ mà họ cho là quá mạo hiểm cho quốc gia.
Câu chuyện quay quanh cố gắng của Lincoln lấy cho được sự chấp thuận của Hạ Viện (cần 2/3 số phiếu) để thông qua Tu Chính số 13 của Hiến Pháp Mỹ đặt “hệ thống sở hữu và điều hành nô lệ ngoài vòng pháp luật” trên mọi tiểu bang. Lý do là dù thắng trận, nếu nô lệ vẫn còn là “tài sản hợp pháp” của người dân và tùy thuộc vào luật lệ của tiểu bang, ý nghĩa sự thắng trận của phe miền Bắc coi như công cốc. Trong khi đó, vì chiến thắng đã cận kề và mọi người đã mỏi mệt qua 4 năm mất mát, nên dù đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ,  không ai muốn đụng chạm đến chuyện “nô lệ” này nữa.
Cuối cùng, Lincoln và những người nô lệ hân hoan mừng thắng cuộc, trên chiến trường và nghị trường, đem vấn đề nô lệ ra khỏi lịch sử Mỹ từ đó. Hai tháng sau, Lincoln bị ám sát chết và 143 năm sau, Obama trở thành Tổng Thống da mầu đầu tiên của Mỹ.
Cuốn phim dàn dựng rất công phu và chi tiết theo đúng lối hấp dẫn khán giả của đạo diễn Spielberg; nhưng ngoài việc đang được đề cử cho giải Oscar của phim hay nhất trong năm, phim còn là một bom tấn trên thị trường. Điều này hơi lạ vì không ai nghĩ là người dân Mỹ quan tâm đến một đề tài khô khan của lịch sử, nhất là những tranh luận và thủ thuật chánh trị trong quá khứ xa vời. Với tôi, ấn tượng nhất là cuốn sách và phim “Lincoln” đã giúp cho tôi 4 góc nhìn mới về các sự kiện 150 năm về trước trong bối cảnh của thực tại hiện nay.
  1. 1.      Đây mới gọi là nghiên cứu và khảo sát lịch sử
Rất nhiều tư tưởng hiện tại về quốc gia, về các nhân vật lịch sử và về hệ quả của các hành xử chính trị hay quân sự thường dựa trên những định kiến và những tài liệu xa xưa chứa nhiều huyền thoại và sai lầm. Ngay cả trong 100 năm trở lại đây, khi tiến bộ về khoa học và nhân văn đã phổ thông toàn cầu, phần lớn những trích dẫn về dữ kiện lịch sử của Việt Nam lại đến từ ghi chép của các sử gia nước ngoài. Các tài liệu tôi đã đọc về sử Việt cho thấy những bài viết rất hời hợt, chủ quan và mang tính cách tuyên truyền cho một trường phái nào đó trên quan điểm chánh trị hay xã hội (đây là kết luận có thể sai lầm của tôi vì chưa đọc nhiều và đủ từ các sử gia Việt?).
Ngay cả khi một giả thuyết nghi ngờ về thân thế của một nhân vật lịch sử quan trọng xuất hiện trên mạng, đề tài này được bàn tán sôi nổi vì bí mật bao quanh sự kiện. Một cuộc khảo sát DNA mất 5 phút có thể cho ta lời giải đáp chính xác. Nhưng không một sử gia nào được phép liên quan. Khi khoa học và minh bạch đi vắng, thì góc nhìn của mọi người nhất định phải bị méo mó và thui chột.
Cuốn sách của Goodwin chỉ phủ trùm 4 tháng của cuộc đời Lincoln và chì đặt trọng tâm vào sự kiện Tu Chính 13 của Hiến Pháp Mỹ. Nhưng những chi tiết trích dẫn cho thấy một công trình khoa học, khách quan và có thể dậy cho chúng ta phân biệt thế nào là “lịch sử” và thế nào là “tiểu thuyết”. Những cái hay, cái đẹp, cái thiện được phơi bày rõ ràng cùng với những cái dở, cái xấu, cái ác…của các nhân vật và môi trường sinh hoạt 148 năm trước. Ngay cả những rắc rối khó khăn trong gia đình Lincoln, nhất là vấn đề của vợ con, cũng được phơi bày tường tận.
Santayana nói là những ai quên quá khứ sẽ phải trả giá cho sự tái diễn. Liệu sự ngu dốt của chúng ta về “sự thật” không nhuốm mầu chánh trị trong các sự kiện lịch sử chỉ mới xẩy ra chưa đến 100 năm có thể là một gánh nặng văn hóa và tư duy cho nhiều thế hệ sau này của Việt Nam?
  1. 2.      Chính trị gia thời nào nơi nào cũng thế
Trong cuộc tranh giành từng lá phiếu để thông qua Tu Chính 13, Lincoln và phe nhóm ông ta đã phải dùng đến rất nhiều thủ thuật để có đủ 2/3 số phiếu. Họ đã phải hối lộ (không bằng phong bì mà bằng những ban phát phát chức vụ trong chánh quyền mới), phải thỏa hiệp với những tay thao túng lợi ích (power brokers), phải chia để trị, phải đe dọa, phải dỗ dành….Tóm lại, tất cả những sắp xếp sau hậu trường (horse-trading) không khác gì những gian dối mua bán quyền lực và lợi ích ngày nay trên các sân khấu chánh trị từ Âu Mỹ đến Phi Á.
Quyền lợi cá nhân của đa số chính tra gia luôn đặt trên các lợi ích quốc gia hay lý tưởng cộng đồng. Do đó, nếu không có một thể chế phân quyền và minh bạch, sự lạm dụng quyền lực sẽ luôn luôn đi quá đà và tạo nên những thao túng pháp luật vô cùng trắng trợn và táo bạo.
Sự khôn ngoan của các bậc trí thức khi tạo dựng hiến pháp Mỹ và các tuyên ngôn dân quyền đã đem sự ổn định chánh trị và xã hội của Mỹ trong suốt 250 năm qua.
  1. 3.      Tinh thần thượng tôn pháp luật
Lý do chính khiến Lincoln phải vội vã đưa ra biều quyết cho Tu Chính 13 khi chiến thắng của miền Bắc đã gần kề là sự giải thích pháp luật theo cái nhìn của một luật gia với mọi văn kiện pháp lý. Theo Lincoln, nếu hiến pháp không đặt chuyện “nô lệ” ra ngoài vòng pháp luật, thì luật vẫn cho nô lệ là một tài sản và thuộc quyền xử lý của tiểu bang. Tóm lại, dù thắng trận, chánh phủ liên bang cũng không có quyền đụng đến “tài sản của dân” và không thể áp buộc các chủ nô lệ phải “giải phóng” hay “ chịu sự tước đoạt” của bất cứ thẩm quyền nào.
Ở xứ Trung Quốc, khi quan điểm của ông Chủ Tịch Mao là “ người cầm súng đặt ra luật lệ” thì không ai thắc mắc về những văn kiện hay điều lệ tiềm ẩn có thể gây tranh cãi tại các tòa án. Chính vì vậy, Lincoln đã tốn bao nhiêu vốn chính trị, đêm không ngủ, thực thi kế sách…để Tu Chính 13 được Hạ Viện thông qua. Tinh thần thượng tôn pháp luật của 1 vị Tổng Thống quyền lực và vừa thắng trận 148 năm trước không biết có làm các lãnh tụ bé hon ngày nay phải xấu hổ vì sự ngạo mạn chà đạp lên mọi luật lệ và công lý của xã hội?
4.      Không trả thù bại quân và dân và không cướp giật tài sản
Tuy nhiên, điều ấn tượng nhất trong cuốn sách là hai tuần trước khi miền Nam chính thức đầu hàng, Lincoln đã gặp tướng U. S. Grant, thống soái đạo quân miền Bắc cùng các tướng lãnh chỉ huy khác, và dặn dò đi lại nhiều lần là,” khi chiến tranh chấm dứt, hãy trả tự do mọi tù nhân chiến tranh (bại quân và bại dân) và giúp họ quay về nhà sớm để mưu sinh lo cho gia đình. Tuyệt đối không được đụng đến tài sản của dân (dù thua cuộc, tất cả bây giờ đều là công dân), không được trả thù và phải nghiêm trị mọi vi phạm pháp luật, nhất là của các quan cán chức hay binh sĩ của phe thắng trận”.
Ngoài ra, trong những đề nghị ngân sách các năm sau đó, các lãnh tụ kế tiếp của miền Bắc đã luôn dành ưu tiên cho việc tái thiết miền Nam để hàn gắn những đổ vỡ về vật chất cũng như tinh thần.
Tinh thần nhân hậu và cách đối xử văn minh của phe lãnh đạo miền Bắc đã tạo nên một tiền lệ lịch sử cho tinh thần xứ Mỹ: luôn luôn chăm lo cho phe thua cuộc hơn là băm xẻ những miếng mồi ngon bở cho phe nhóm mình. Sau trận thắng huy hoàng ở Thế Chiến 2, Mỹ đã bơm nhiều tỷ đô la thời đó vào chương trình Marshall để tái thiết Âu Châu và MacArthur đã giúp Nhật rất nhiều để xây một nền tảng pháp lý mới cho một nền kinh tế mới.
Nhân và quả của một chánh sách
Bản chất nhân hậu, lương thiện, tôn trọng luật pháp và đặt lợi ích quốc gia trên quyền lợi cá nhân đã biến Lincoln thành một vị Tổng Thống vĩ đại của nước Mỹ. Cùng với các thận cần như Tướng Grant, các Bộ Trưởng Seward, Stanton…họ đã thay đổi định mệnh của xứ Mỹ. Chỉ 25 năm sau, mọi thành kiến, thù hận về cuộc nội chiến đã được xóa bỏ trong lòng người dân Mỹ. Giữa hai bên, phe thắng cuộc và thua cuộc, những rào cản pháp lý hay xã hội không cón hiện diện. Atlanta vươn lên từ đống tro tàn và trở thành một trong những thành phố đáng yêu nhất của miền Nam.
40 năm sau đó, xứ Mỹ qua mặt đế chế Anh về kinh tế và trở thành một đế chế siêu cường chỉ 60 năm sau nội chiến tương tàn để thay thế cho đế chế Anh vừa tàn lụi.
Tôi nói với người bạn Nhật,” nếu chúng tôi có một lãnh tụ như Lincoln 150 năm trước, lịch sử Việt Nam sẽ thay đổi nhiều.” Anh bạn cười, “Lúc đó, chúng tôi phải xếp hàng chờ qua Việt Nam để học hỏi các anh.”
Sao dân tộc Mỹ may mắn đến thế?

Alan Phan
Nguồn Góc Nhìn ALan

'Thuyết âm mưu' về phiến quân IS

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014 | comments ( 1 )

Với sự man rợ không cần giấu diếm, hẳn nhiều người cho rằng IS (Islamic State) đang tự cô lập mình bằng muôn vàn kẻ thù. 



Trong cuộc trò chuyện gần đây với những người bạn Hồi giáo, tôi nhận thấy các cuộc tranh luận của họ không bao giờ thiếu món ăn đặc trưng của những đất nước vùng Trung Đông: Thuyết âm mưu.

Tiền của IS ở đâu ra?

Thuyết âm mưu: “Israel và bè lũ Do Thái luôn tìm cách lũng đoạn Trung Đông”; “Mỹ bí mật tài trợ cho IS để tạo cớ cho sự có mặt quân sự tại khu vực”
Trong thực tế, IS được tiếp năng lượng chủ yếu từ hai nguồn tài chính sau.
Thứ nhất là dầu. IS được ví như Taliban với những giếng dầu trong tay. Mỗi ngày IS bán được tới 30.000 thùng dầu với giá rẻ hơn giá thị trường, dao động quanh 25-65 đô la/ thùng. Dầu được vận chuyển ra ngoài địa hạt của IS bằng các trung gian mối lái người Kurd, bán lại cho các khách hàng ở biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, và cho chính bản thân chính quyền Assad của Syria. Syria nhận dầu, và bán vũ khí cho IS.
Sự oái ăm này thực ra không hề lạ lẫm trong những màn trình diễn chính trị và xung đột ở Trung Đông. Nền kinh tế kiểu chiến tranh đã trở thành câu chuyện tính toán ăn chia thường ngày của các nhà độc tài chính trị nơi đây. Ngoài mặt, IS chính thức là một tổ chức thánh chiến dòng Hồi Sunni với mục tiêu đánh đổ chính quyền dòng Hồi Shia của Syria.
Tuy nhiên, cả hai bên đều hiểu rằng, họ có thể một tay dí súng vào đầu nhau, dưới gầm bàn, tay kia hoàn toàn có thể tạm thời ngoắc ngoặc với nhau trong những thương vụ làm ăn cả hai bên đều có lợi. Các nhà quan sát đã gọi mối quan hệ này là “frienemy”, một dạng quan hệ vừa đối đầu vừa đối thoại giữa hai kẻ vừa là bạn vừa là thù. Số tiền bán dầu chảy vào túi IS mỗi ngày lên đến 2-3 triệu đôla.
Lưu ý rằng Al-Qaeda chỉ cần 30 triệu đôla mỗi năm để vận hành bộ máy khủng bố, và chỉ cần 1 triệu đôla để chi cho cuộc tấn công Tháp Đôi.
Nguồn tài chính thứ hai xuất phát từ vùng Vịnh. IS đã luôn được sự ủng hộ từ khi còn trong nôi của những tổ chức tôn giáo và cá nhân tại Saudi, Qatar và Kuwait.
Lưu ý rằng sự ủng hộ này không hẳn đã trực tiếp đến từ chính quyền các quốc gia vùng Vịnh theo dòng Sunni mà chủ yếu từ những tổ chức cá nhân riêng lẻ. Nguồn tiền cho IS chảy ra từ túi những kẻ cách đây vài năm đã chót lạc quan cho rằng chính quyền Hồi Shia của Syria chắc chắn sẽ nhanh chóng sụp đổ. Khi Syria sụp đổ, một tổ chức Hồi Sunni như IS sẽ đóng vai trò trải đường cho các diễn biến chính trị có lợi cho sự ảnh hưởng quyền lực của Hồi giáo Sunni.
Tại sao các tổ chức tôn giáo và cá nhân này lại không ủng hộ các nhánh quân nổi dậy trung dung của Syria mà lại đổ tiền vào một tổ chức cực đoan như IS? Nguyên nhân thứ nhất là do họ không tin vào phương Tây, nhất là khi phương Tây dù lên tiếng ủng hộ các nhánh quân trung dung nhưng lại không chịu đổ tiền vào trang bị vũ khí.
Nguyên nhân thứ hai sâu xa hơn, sẽ được bàn đến trong phần sau.
Hàng nghìn tay súng nước ngoài đã gia nhập IS

IS là sản phẩm của ai?

Thuyết âm mưu: “Israel và bè lũ Do Thái luôn tìm cách lũng đoạn Trung Đông”; “IS là đứa con hoang của Mỹ, vô thừa nhận, và bị làm biến dạng một cách cố ý để tránh tội lỗi, hệt như Taliban với xuất xứ từ những chiến binh thánh chiến mà Mỹ chống lưng để chống lại cuộc xâm lược của Liên Xô tại Afghanistan”
Trong thực tế, chúng ta chỉ có thể hiểu về IS nếu đi ngược lại lịch sử chừng 100 năm, khi nhà Saud – khởi đầu chỉ là chủ một bộ lạc nhỏ ở vùng sa mạc Nadj – đến đầu thế kỷ thứ 19 đã bắt tay với một nhánh Hồi giáo khá cực đoan là Wahhabi dần dần đánh chiếm và làm chủ gần như toàn bộ vùng bán đảo Ả Rập, bao gồm cả thánh địa Mecca và Medina.
Cam kết của nhà Saud và Wahhabi có thể được coi là một trong những cuộc hôn nhân thực dụng nhất giữa quyền lực chính trị và tôn giáo mà trong đó nhà Saud sẽ mang danh lãnh đạo còn giáo lý Hồi dòng Wahhabism sẽ là kim chỉ nam của vương quốc. Không ai có thể ngờ rằng mối liên minh này đã tạo ra một đất nước bị bóp nghẹt trong bàn tay quyền lực của chính mình.
Hơn 20 năm qua, 95% trong tổng số hơn 1000 khu kiến trúc cổ của Saudi đã bị tàn phá, hầu hết là các thánh đường Hồi giáo và di tích nơi sinh sống của thiên sứ Muhammad.
Wahhabi cho rằng bất kỳ một kiến trúc lịch sử nào cũng có thể trở thành những nơi thờ cúng linh tượng, và vì chỉ có Thượng Đế mới đáng để tôn thờ, nếu ngôi mộ của chính Muhhamad trở thành nơi tín đồ cúng bái thì cũng sẽ bị san phẳng. Ngôi nhà của vợ ông ở Mecca bị xây trùm lên bằng một hàng nhà xí công cộng.
Những tàn tích cuối cùng của một nền văn minh đa sắc màu cũng như những bằng chứng cuối cùng của một nền văn hóa Hồi giáo cổ gần như cố tình bị triệt tiêu và xóa sổ, đặt vào tay những thầy tu Wahhabi quyền năng tối thượng trong việc viết lại lịch sử tôn giáo và diễn giải triết lý Hồi giáo theo lý lẽ của riêng mình.
Bước vào thế kỷ 21, Saudi Arabia là một vương quốc dầu lửa giàu có nhưng mang trong mình một khối nội tạng khổng lồ vay mượn của giáo lý cực đoan Wahhabi, biết là di hại mà không thể vứt bỏ vì liên minh quyền lực với các thầy tu tôn giáo đã trở thành xương tủy của cơ thể chứ không còn là những bộ phận cấy tạo.
Nhà vua Saudi dù nổi tiếng là người có tư tưởng cải cách nhưng không thể ngăn cản được một bộ phận dân chúng đã ngấm chất máu cực đoan của dòng giáo lý nổi tiếng tàn khốc và bạo lực này.
Chính quyền Saudi dù là đồng minh thân cận của Mỹ, nhưng không thể ngăn cản được tinh thần Wahhabi được nuôi nấng từ khi còn trong nôi. Với đồng tiền dầu lửa, IS là một trong những sản phẩm vượt biên giới, trực tiếp hoặc gián tiếp, của cả một hệ thống giáo lý cực đoan dùng làm công cụ cho chính trị và quyền lực, di căn đến từng tế bào mà không thể cắt bỏ vì “công cụ” dính chặt đã trở thành một phần không thể tách rời của cơ thể.
Phiến quân Hồi giáo đã chiếm được nhiều khí tài quân sự hiện đại do quân đội Iraq bỏ lại

IS chỉ bó hẹp ở Trung Đông?

Thuyết âm mưu: “Israel và bè lũ Do Thái luôn tìm cách lũng đoạn Trung Đông và cả thế giới nếu cần”; “IS là vũ khí kiểu mới của Mỹ, được Mỹ dùng làm con mồi để có thể can thiệp quân sự vào bất kỳ nơi nào trên thế giới, chỉ cần lấy cớ là mạng lưới của IS lớn mạnh và gây xung đột”
Trong thực tế, IS hoàn toàn có khả năng bị dập tắt, dù khả năng này là rất nhỏ vì nhiều lý do, trong đó có lý do IS mang dáng dấp của một nhà nước chứ không phải chỉ là một tổ chức khủng bố (xem thêm bài BấmTham vọng của ISIS).
Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là trong bất kỳ viễn cảnh nào, IS lớn mạnh, bị triệt tiêu hay chỉ còn ngoi ngóp thở, thì “tư tưởng IS” đã thành công rực rỡ trong việc gửi đi khắp toàn cầu một thông điệp rằng sự thống nhất của thế giới Hồi giáo là điều hoàn toàn có thể, rằng lý tưởng xây dựng một nhà nước Hồi giáo “hoàn toàn thanh tẩy” là điều có thể.
Và thông điệp này không rơi tõm vào khoảng không. Chúng được đón nhận bởi một hệ thống rada đã được cài cắm, chăm bón, phát triển ở khắp năm châu bốn biển từ nhiều năm trước. Chúng ta lại quay trở về đối mặt với một người quen: Wahhabism từ Saudi.
Tiền từ túi những cá nhân và tổ chức cực đoan của Saudi từ hàng chục năm qua đã lan tỏa ra toàn thế giới, mua chuộc các lãnh đạo tôn giáo, trả lương cho các thầy tu, cung cấp sách vở, đổi thay giáo lý, xây dựng thánh đường, trợ cấp tiền cho thanh niên của hàng trăm đất nước sang vùng Vịnh học tập, sau đó trở về quê hương, đem theo lý tưởng Wahhabi, thay máu niềm tin và cực đoan hóa cách sống của những người dân địa phương.
Các quan chức của Saudi cho biết trên toàn thế giới có 1500 nhà thờ Hồi giáo, 202 trường ĐH, 210 trung tâm tôn giáo được tài trợ bởi các nguồn tiền từ Saudi. Trong số này có cả Việt Nam, một số thánh đường lớn mới xây với tiền tài trợ từ Saudi, chưa kể nguồn tài trợ từ Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập. Nhiều thanh niên Hồi Việt Nam sau khi đi học đã và đang trở về làm công tác truyền giảng giáo lý.
Trong một buổi thảo luận về Hồi giáo hồi tháng 3 năm nay tại Việt Nam, tôi đã sững sờ khi khách mời của chương trình, một thanh niên gốc Chàm được gửi đi học tại Saudi trở về làm thầy giảng đạo, đã rất mạnh mẽ tuyên bố và bảo vệ một quan điểm khá cực đoan “phụ nữ kém đàn ông một bậc”. Đây là một câu trích trong Quran (2:228) và chỉ những kẻ cực đoan mới hiểu một cách máy móc là đàn ông ưu việt hơn phụ nữ. Tuy nhiên, tôi vui mừng khi thấy anh ta bị khán giả dồn lên chỉ trích, trong đó có cả một cô gái Hồi giáo.
"Việt Nam chưa có chiến binh thánh chiến, nhưng liệu lịch sử tôn giáo dung hòa của Việt Nam có thể ngăn cản sự hình thành những chiến binh thánh chiến hay không là một câu hỏi mở. "
Vài nguồn tin khảo cứu cá nhân cho biết một bộ phận dân Hồi Việt Nam bắt đầu có tín hiệu Ả Rập hóa kiểu Wahhabi. Những bộ quần áo bình thường bắt đầu được thay bằng quần áo chùm màu đen. Nhiều phụ nữ Hồi trẻ tuổi người Việt Nam bỏ cách tín ngưỡng Hồi giáo truyền thống, thay tên đổi họ bằng tiếng Ả Rập, che mạng kín mặt, và cho rằng Hồi giáo không cho phép nam nữ bắt tay nhau.
Những thanh niên Hồi giáo này hoàn toàn không biết rằng họ đang bị Ả Rập hóa và Wahhabi hóa chứ không phải Hồi giáo hóa. Trong giới những người trẻ tuổi ở Trung Đông, chỉ những tín đồ khá thủ cựu đi theo phong trào cực đoan Salafi của Wahhabism mới kiên quyết rũ bỏ các giá trị và phong cách sống trung dung để quay lại thực hiện lối sống hà khắc như vậy.
Trong suốt thời gian 9 tháng tại Trung Đông năm 2012, chỉ có duy nhất một lần tôi bị từ chối bắt tay (một cách khá lịch sự) bởi một nông dân ở Yemen vì anh ta mới tắm rửa sạch sẽ để chuẩn bị đi lễ. Sau khi làm lễ, người nông dân này đã hối hả tìm lại tôi để bắt tay và xin lỗi. Yemen là quốc gia nghèo nhất và cũng cực đoan nhất trong thế giới Hồi giáo.
Người Hồi ở Việt Nam từ xưa vốn không có nhiều mối liên quan mật thiết với thế giới Hồi giáo bên ngoài. Khi mở cửa ra hòa nhập với thế giới, họ hào hứng hòa mình vào cộng đồng lớn, đón nhận một phiên bản Hồi giáo khác với những gì truyền thống từng được học.
Thiếu đi sự so sánh và cái nhìn tổng quan, rất nhiều người trong số họ không hề biết rằng phiên bản Hồi giáo mà họ đang nhận được có thể là một phiên bản khá cực đoan. Và vì ngộ nhận đây mới chính là “Hồi giáo chính thống”, họ có thể vô tình tiếp nhận một nhánh tôn giáo mà cả thế giới Hồi giáo đang coi là hiểm họa.
Nhiều quốc gia châu Âu đang thực sự lo lắng về hàng ngàn chiến binh thánh chiến gốc Trung Đông, dù sinh ra và lớn lên ở châu Âu nhưng trái tim thuộc về IS. Không đơn giản chỉ là việc những chiến binh này được đẻ ra từ tư tưởng Wahhabi bắt rễ tại chính châu Âu bằng tiền dầu lửa, những chiến binh này sẽ quay trở lại châu Âu, cực đoan hơn, và mang theo mầm sống IS. Mảnh đất lý tưởng cho mầm sống này chính là những thánh đường, tu sĩ, và giáo lý đã được từ từ ngấm chất Wahhabi từ hàng chục năm nay.
Việt Nam chưa có chiến binh thánh chiến, nhưng liệu lịch sử tôn giáo dung hòa của Việt Nam có thể ngăn cản sự hình thành những chiến binh thánh chiến hay không là một câu hỏi mở. Sự ảnh hưởng của Wahhabism lên cộng đồng Hồi giáo Việt Nam có thể chưa rõ ràng, nhưng bất kỳ khoản tiền viện trợ hoặc học bổng du học đào tạo giáo sĩ Hồi giáo nào đến từ vùng Vịnh cũng cần phải được cân nhắc kỹ càng.
Như vậy, không chỉ có hàng ngàn chiến binh thánh chiến gốc Trung Đông sinh ra và lớn lên ở châu Âu sẽ trở về mang theo mầm sống IS. Tư tưởng IS hoàn toàn có thể bén gốc ở bất kỳ nơi đâu, miễn là ở đó mảnh đất đã được tưới tắm bằng những đồng tiền dầu lửa từ những tổ chức tôn giáo cực đoan của vùng Vịnh.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả, hiện đang giảng dạy môn Trung Đông Học tại Đại học Khoa học Ứng dụng Amsterdam, Hà Lan và là tác giả cuốn Con Đường Hồi Giáo viết về 12 quốc gia Trung Đông thời hậu Mùa Xuân Ả Rập.
Nguyễn Phương Mai
Nguồn BBC Việt Ngữ

Trật Tự Thế Giới Mới

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014 | comments

Những tiến bộ kỹ thuật gần đây đã gia tăng tính thống nhất về thị trường lao động và tư bản/vốn toàn cầu. Ứng dụng tính thống nhất của hai yếu tố này tạo ra sự ổn định về giá cả, rất có lợi cho những quốc gia có lương nhân công rẻ và chi phí vay vốn thấp. Một số người lý luận rằng thời đại công nghệ tiến bộ đến chóng mặt này có lợi cho thị trường lao động, số khác lại cho rằng thuận tiện trong việc vay vốn. Cả hai ý kiến đã coi nhẹ một thực tế rằng công nghệ không chỉ kết hợp các nguồn vốn và lao động hiện tại, mà còn tạo ra những nguồn mới.

Máy móc đang thay thế cho nhiều kiểu lao động của con người hơn bao giờ hết. Sự thay thế này càng được lập lại bao nhiêu, càng tạo ra nhiều vốn bấy nhiêu. Điều này có nghĩa rằng sự thắng lợi thực sự trong tương lai không phải là những nơi cung cấp lao động rẻ hay chủ nhân của các nguồn vốn bình thường, cả hai đều sẽ bị ép buộc phải tự động hóa, mà cho nhân tố thứ ba: những người sáng tạo các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.
Sự phân phối thu nhập cho tầng lớp sáng tạo này thường được thể hiện dưới hình thức của luật lũy thừa: một nhóm nhỏ được hưởng hầu hết lợi nhuận, kéo theo sau đuôi là một lô những người tham dự [vào việc sáng tạo] khác. Do đó trong tương lai, các đóng góp ý tưởng sáng tạo thực sự trở nên khan hiếm trên thế giới — khan hiếm hơn cả lao động và nguồn vốn — và những người cung cấp các ý tưởng tốt sẽ thu hoạch những thành quả rất lớn. Bảo đảm đời sống với tiêu chuẩn có thể chấp nhận được cho đa số những người còn lại và để xây dựng một nền kinh tế-xã hội toàn diện sẽ là một thách thức quan trọng trong nhiều năm sắp tới.
Khó Khăn Về Lao Động
Hãy lật iPhone của bạn ra phía sau, bạn sẽ đọc được một kế hoạch kinh doanh gói ghém trong tám từ phục vụ tuyệt vời cho Apple: “Thiết kế bởi Apple tại California. Lắp ráp tại Trung Quốc’’ (Designed by Apple in California. Assembled in China). Với số vốn theo giá thị trường trên 500 tỉ, Apple trở thành công ty có giá trị nhất hoàn cầu. Các biến thể của chiến lược này không chỉ hữu hiệu đối với Apple và các doanh nghiệp lớn khác trên thế giới, mà còn hữu hiệu cho các doanh nghiệp hạng trung, và ngay cả các doanh nghiệp đa quốc gia nhỏ. Ngày càng nhiều doanh nghiệp ứng dụng hai sức mạnh tuyệt hảo của thời đại chúng ta – công nghệ và toàn cầu hoá — để thu lợi nhuận.
Công nghệ đã đẩy toàn cầu hoá về phía trước, giảm thiểu đáng kể chi phí giao dịch, thông tin liên lạc và đưa thế giới đến gần hơn một thị trường lớn lao duy nhất về lao động, vốn, và các nguồn đầu vào khác phục vụ cho sản xuất. Mặc dù công nhân chưa hoàn toàn di chuyển tự do, nhưng các yếu tố khác ngày càng tăng sự dịch chuyển dễ dàng. Kết quả là, các thành tố khác nhau [dụng cụ, vật liệu…] được chuyển đến nơi công nhân làm việc với một ít khó khăn và tổn phí nhỏ. Khoảng một phần ba số hàng hóa và dịch vụ trong những nền kinh tế tiên tiến là có thể dùng để trao đổi buôn bán, nhưng con số này đang gia tăng. Ảnh hưởng của cạnh tranh toàn cầu lan toả sang cả những phần không giao dịch buôn bán, trong cả hai nền kinh tế tiên tiến và đang phát triển.
Tất cả những điều này tạo điều kiện không chỉ cho hiệu quả và lợi nhuận lớn hơn, mà còn tạo sự bất dịch chuyển chỗ làm rất lớn. Nếu một công nhân ở Trung Quốc hay Ân Độ có thể làm công việc giống như một công nhân ở Mỹ, thì định luật về kinh tế đặt định rằng cuối cùng, họ sẽ hưởng một đồng lương tương tự (được điều chỉnh đối với một số khác biệt về năng suất quốc gia). Một cách tổng thể, đó là tin tức tốt đẹp cho một nền kinh tế hiệu quả, cho người tiêu dùng và cho công nhân ở những nước đang phát triển – nhưng không cho công nhân ở những nước đã phát triển, đang phải đối mặt với sự cạnh tranh chi phí thấp. Nghiên cứu chỉ ra rằng các lãnh vực có thể giao dịch ở các nước công nghiệp tiên tiến đã không tạo ra được mức lao động ròng (net employment generator) trong hai thập niên qua. Điều đó có nghĩa là việc làm được tạo ra chỉ nội trong lãnh vực bất khả giao dịch (nontradable sector), nơi mà lương công nhân suy giảm vì ngày càng phải cạnh tranh với công nhân di dời từ lãnh vực khả thể giao dịch (tradable sector) chuyển sang.
Ngay cả khi câu chuyện toàn cầu hoá được tiếp tục, một hiện tượng lớn hơn đang bắt đầu diễn ra: câu chuyện về tự động hóa, rô bốt, in ấn ba chiều và những chuyện tương tự như vậy. Chuyện thứ hai đang vượt qua chuyện trước, với một số trong những tác dụng lớn nhất sẽ ảnh hưởng đến các công nhân không có tay nghề ở các quốc gia đang phát triển.
Ví dụ: đến thăm một nhà máy ở tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc, bạn sẽ thấy hàng ngàn người trẻ làm việc ngày này qua ngày khác, với một động tác lập đi lập lại như gắn kết hai phần của một bàn phím lại với nhau. Những công việc như vậy rất hiếm khi, hoặc có thể chẳng bao giờ, được nhìn thấy nữa ở Hoa Kỳ hay các nước giầu có khác. Nhưng nó cũng có thể không tồn tại lâu lắm nữa ở Trung Quốc và ngay cả phần còn lại của các nước đang phát triển, bởi các nước đó đang dính dáng đến các loại việc mà rô bốt có thể làm rất dễ. Khi các loại máy thông minh ngày càng rẻ và mua dễ dàng, nó sẽ càng thay thế cho sự lao động của con người, đặc biệt đối với các cơ xưởng sản xuất và các loại công việc có tính cách lập đi lập lại. Nói cách khác, mở hãng sản xuất ở những nước có lao động rẻ chỉ là trạm xưởng xa nhà trên đường tự động hoá.
Điều này sẽ xảy ra ngay cả ở những nơi có chi phí lao động thấp. Thật vậy, Foxconn, công ty Trung Quốc lắp ráp iPhone và iPad, có hơn một triệu người lao động thu nhập thấp – nhưng bây giờ, họ được bổ sung và thay thế bởi một đội quân ngày càng tăng của rô bốt. Thế là, sau khi nhiều công việc sản xuất được chuyển từ Mỹ sang Trung Quốc, chúng xuất hiện để rồi lại biến mất khỏi Trung Quốc. (Dữ liệu đáng tin cậy về quá trình chuyển đổi này khó có thể tìm được. Theo báo cáo chính thức về số liệu của Trung Quốc cho biết thì có sự sụt giảm 30 triệu việc làm thuộc ngành sản xuất từ năm 1996, hoặc 25 phần trăm trên tổng số, ngay cả khi sản lượng sản xuất tăng hơn 70 phần trăm, nhưng một phần của sự suy giảm này có thể phản ánh các sửa đổi trong phương pháp thu thập dữ liệu). Khi không còn phải theo đuổi thị trường lao động rẻ nữa, giá trị sản phẩm gia tăng vì tiết giảm chi phí tồn kho, thời gian giao hàng rút ngắn, hoặc đại loại như thế, và càng có lợi cho bất cứ chỗ nào là thị trường cuối cùng [nơi sản phẩm được tiêu thụ].
Khả năng phát triển của tự động hóa đe dọa một trong những chiến lược đáng tin cậy nhất mà các nước nghèo thường sử dụng để thu hút đầu tư bên ngoài: cung cấp lao động rẻ để bù đắp cho năng suất và công nhân kỹ năng thấp. Và xu hướng này sẽ mở rộng ra ngoài lãnh vực sản xuất. Ví dụ, hệ thống phản ứng tương tác giọng nói (interactive voice response system) giảm thiểu tương tác trực tiếp giữa người với người, đang gây trở ngại cho các trung tâm phục vụ khách hàng bằng điện thoại trong các nước đang phát triển. Tương tự như vậy, các thảo chương máy tính đáng tin cậy sẽ cắt bỏ công việc sao chép thường được thực hiện trong thế giới đang phát triển. Ngày càng nhiều lãnh vực sử dụng máy móc tinh khôn và linh hoạt thay thế cho nguồn chi phí hiệu quả nhất là “lao động” rẻ.
Khó Khăn Về Vốn
Nếu nhân công rẻ, nguồn lao động dồi dào không còn là con đường rõ ràng để phát triển kinh tế, vậy thì đó là gì? Một trường phái chỉ ra những đóng góp ngày càng tăng của vốn: các tài sản vật chất và phi vật thể kết hợp với lao động để sản xuất hàng hóa và dịch vụ cho một nền kinh tế (hãy nghĩ đến các thiết bị, các tòa nhà, bằng sáng chế, nhãn hiệu, và những thứ tương tự). Như kinh tế gia Thomas Piketty lập luận trong cuốn sách bán chạy nhất của ông, Tư Bản Trong Thế Kỷ Hai Mươi Mốt, theo một điều kiện ông dự đoán cho tương lai thì vốn liếng của một nền kinh tế có xu hướng tăng lên khi hiệu suất sinh lợi trên vốn cao hơn hiệu suất tăng trưởng kinh tế. “Vốn tăng trưởng” trong các nền kinh tế mà Piketty dự báo sẽ tăng mạnh hơn nữa khi rô bốt, máy tính và phần mềm (tất cả đều là những hình thức vốn) ngày càng thay thế cho sự lao động của con người. Những kết quả trước mắt cho thấy rằng hình thức thay đổi công nghệ dựa vào vốn đang diễn ra tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới.
Trong thập kỷ qua, sự phân rẽ liên tục tại Hoa Kỳ giữa [hai ý tưởng] tổng thu nhập quốc dân dồn cho lao động và rồi dồn sang cho vốn dường như đã thay đổi đáng kể. Các kinh tế gia Susan Fleck, John Glaser, và Shawn Sprague nêu ra trong Báo cáo của Cục Thống kê Lao động Hàng Tháng  (Bureau of Labor Statistics’ Monthly Labor Review) năm 2011, thì “tỉ lệ lao động trung bình là 64,3 phần trăm từ 1947 đến năm 2000, đã giảm trong thập kỷ qua, và sụt giảm đến điểm thấp nhất ở quý ba năm 2010, chỉ còn có 57,8 phần trăm”. Di chuyển xưởng sản xuất về lại Mỹ từ nước ngoài, bao gồm cả quyết định của Apple nhằm sản xuất máy tính Mac Pro mới tại Texas, không đảo ngược xu hướng này. Để đạt được hiệu quả kinh tế, các cơ sở sản xuất mới tại nội địa cần phải được tự động hóa cao.
Các quốc gia khác đang chứng kiến ​​xu hướng tương tự. Hai kinh tế gia Loukas Karabarbounis và Brent Neiman ghi nhận sự sụt giảm đáng kể trong tỉ lệ lao động của GDP đối với 42 trong số 59 quốc gia mà họ nghiên cứu, bao gồm cả Trung Quốc, Ấn Độ và Mễ Tây Cơ, mô tả phát hiện của họ là rõ ràng tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật số là một động lực quan trọng của hiện tượng này: “Việc giảm giá tương đối của các thiết bị đầu tư [để sản xuất] thường đóng góp vào sự tiến bộ của công nghệ thông tin và thời đại vi tính, khiến các hãng xưởng thay đổi quan điểm, từ chú ý đến số lượng công nhân để hướng sang vốn liếng. Việc giảm giá các thiết bị đầu tư giải thích cho một nửa sự sụt giảm của tỷ lệ lao động”.
Nhưng nếu tỉ lệ vốn của thu nhập quốc gia gia tăng, việc tiếp tục xu hướng này trong tương lai có thể gây nguy hiểm khi những thách thức mới đối với vốn xuất hiện – không phải từ một sự điều chỉnh lao động nhưng từ một đơn vị ngày càng quan trọng trong chính chức năng của vốn: đó là vốn kỹ thuật số.
Trong một thị trường tự do, phần lợi nhuận lớn nhất thuộc về sự khan hiếm nguồn đầu vào cần thiết cho sản xuất. Với một thế giới mà các loại vốn chẳng hạn như phần mềm và rô bốt có thể được nhân rộng với giá rẻ, thì giá trị biên (maginal value) của nó sẽ có xu hướng giảm, thậm chí khi chúng được sử dụng tổng hợp. Ngay cả khi vốn được đưa vào [sử dụng với chi phí rẻ], giá trị vốn hiện có sẽ thực sự suy giảm. Không như các hãng xưởng truyền thống, nhiều loại vốn kỹ thuật số có thể thêm vào [trong tiến trình sản xuất] với giá cực rẻ. Ví dụ phần mềm được sao chép và phân phối mà hầu như chi phí không tăng. Và các thành tố phần cứng máy tính, chi phối bởi các biến thể của định luật Moore’s, sẽ ngày càng rẻ hơn theo thời gian. Vốn kỹ thuật số, nói một cách ngắn gọn, vừa dồi dào, có chi phí biên thấp và ngày càng quan trọng trong hầu hết các ngành công nghiệp.
Ngay cả khi vốn trở nên quan yếu, tỉ lệ lợi nhuận thu được của nhà đầu tư gia tăng không nhất thiết liên quan đến lao động. Tỉ lệ đó phụ thuộc vào sự chính xác đến từng chi tiết đối với các hệ thống sản xuất, phân phối và quản trị.
Trên tất cả, phần thưởng lợi nhuận phụ thuộc vào nguồn đầu vào nào dùng để sản xuất, khan hiếm nhất. Nếu công nghệ kỹ thuật số tạo ra những yếu tố thay thế cho một loạt các loại công việc với giá rẻ, thì đây là thời điểm không nên là một người lao động. Nhưng nếu công nghệ kỹ thuật số ngày càng thay thế cho vốn, thì các chủ sở hữu vốn cũng không nên mong đợi sẽ kiếm được lợi nhuận qua việc bỏ ra một số vốn đầu tư kếch sù.
Khó Khăn Kỹ Thuật Bị Phá Vỡ
Điều gì khan hiếm nhất sẽ có giá trị nhất, đó là nguồn tài nguyên mà hai chúng tôi (Erik Brynjolfsson và Andrew McAfee) gọi là “thời đại máy tính thứ hai”, phải chăng là thời đại của công nghệ kỹ thuật số và những đặc điểm kinh tế liên quan? [Thực ra] không phải là nguồn lao động bình thường, cũng không phải nguồn vốn thông thường nữa, nhưng là những người có sáng kiến và cải cách mới.
Tất nhiên, những người như vậy luôn có giá trị kinh tế, và kết quả là họ được hưởng lợi rất lớn từ các sáng kiến đưa ra. Tuy nhiên, họ phải chia sẻ lợi nhuận với vốn và người lao động, là nhân và tài lực cần thiết để đưa sáng kiến mới vào thị trường. Công nghệ kỹ thuật số ngày càng làm cho cả hai, lao động và vốn, trở thành các loại hàng hoá thông thường; do đó, những người sáng tạo, nhà cải cách và các doanh gia sẽ được hưởng tỉ lệ tưởng thưởng lớn. Những người có ý tưởng sáng tạo, không phải công nhân hoặc nhà đầu tư, sẽ là nguồn tài nguyên khan hiếm nhất.
Các nhà kinh tế với mô hình cơ bản thường giải thích tác động của công nghệ như là yếu tố tạo tăng trưởng đối với tất cả mọi thứ khác, và [hệ quả là] tăng năng suất tổng thể đồng đều cho tất cả mọi người. Mô hình này được sử dụng trong hầu hết các lớp học giới thiệu về kinh tế và cung cấp nền tảng cho sự hiểu biết phổ thông – nhưng, cho đến gần đây, trở nên khá mong manh dễ bị bác bỏ – trực giác cho biết rằng khi thủy triều của tiến bộ công nghệ dâng lên, sẽ nâng tất cả tàu thuyền lên đều nhau, làm cho công nhân hiệu quả hơn và do đó, có giá trị hơn.
Tuy nhiên, một mô hình hơi phức tạp và thực tế hơn cho thấy rằng công nghệ có thể không ảnh hưởng đến tất cả các yếu tố đầu vào như nhau, nhưng sẽ tạo thuận lợi hơn ở nhóm này so với nhóm người khác. Ví dụ, thay đổi kỹ thuật dựa trên kỹ năng thuận lợi với người lao động có tay nghề cao hơn là so với người có tay nghề thấp, và thay đổi kỹ thuật dựa trên vốn sẽ tạo thuận lợi đối với vốn hơn là người lao động. Cả hai loại thay đổi kỹ thuật này có vai trò quan trọng trong quá khứ, nhưng càng ngày, một loại thứ ba – những gì chúng ta gọi là thay đổi kỹ thuật siêu đẳng – sẽ dựa trên nền kinh tế toàn cầu.
Ngày nay, khá dễ để có thể hệ thống hóa nhiều mặt hàng quan trọng, dịch vụ và các quy trình [sản xuất]. Một khi đã hệ thống hóa, chúng có thể được số hóa, và khi đã số hóa, chúng có thể được nhân rộng. Bản sao kỹ thuật số có thể được thực hiện gần như không tốn kém và chuyển tới bất cứ nơi nào trên thế giới ngay lập tức, một bản sao chính xác y bản gốc. Sự kết hợp của ba đặc điểm – chi phí cực thấp, có mặt khắp nơi nhanh chóng, và sự in lại nguyên bản – dẫn đến một số nền kinh tế kỳ lạ và tuyệt vời. Nó có thể tạo ra sự phong phú chưa từng có do tình trạng khan hiếm, không chỉ đối với hàng tiêu dùng, chẳng hạn như videos âm nhạc, mà còn cho các yếu tố kinh tế đầu vào, chẳng hạn như một số loại vốn và lao động.
Lợi nhuận tại các thị trường như vậy thường theo một mô hình khác biệt – luật luỹ thừa, hoặc đường cong Pareto, trong đó một số lượng nhỏ các tham dự viên gặt hái phần thưởng một cách bất cân xứng [tức quá nhiều]. Hiệu ứng mạng, theo đó một sản phẩm càng trở nên có giá trị hơn khi càng nhiều người sử dụng nó, có thể tạo ra loại người mà khi thắng thì được hưởng tất cả hay chiếm lĩnh hầu hết thị phần. Hãy quan sát Instagram, [mạng] chia sẻ hình ảnh như một ví dụ về tính kinh tế của các nền kinh tế mạng kỹ thuật số. 14 người đã tạo ra một công ty không cần nhiều công nhân không có tay nghề làm việc, cũng không cần nhiều vốn tiền tươi. Họ xây dựng một sản phẩm kỹ thuật số và hưởng lợi từ hiệu ứng mạng, và sau một năm rưỡi, khi sản phẩm được sử dụng rộng rãi, họ đã bán công ty với số tiền là ba phần tư tỷ đô la – trớ trêu thay, vài tháng sau thì một công ty nhiếp ảnh khác, Kodak, phá sản, mà ở thời kỳ phát triển nhất, họ cần khoảng 145.000 công nhân và có trong tay cả hàng tỷ đô la tiền vốn.
Instagram là ví dụ điển hình của một quy luật tổng quát hơn. Thường thì khi những cải tiến trong công nghệ kỹ thuật số để số hóa một sản phẩm hoặc quy trình, người có sáng kiến đầu tiên nhìn thấy sự gia tăng thu nhập của mình rất rõ, trong khi kẻ tham dự thứ nhì hoặc những kẻ đến muộn sẽ rất khó cạnh tranh. Các nghệ sĩ biểu diễn hàng đầu trong âm nhạc, thể thao và các lĩnh vực khác cũng đã nhìn thấy thu nhập của họ gia tăng từ những năm 1980, trực tiếp hoặc gián tiếp đi theo cùng một xu hướng như thế.
Nhưng không phải chỉ phần mềm và các phương tiện truyền thông đang chuyển biến. Số hóa và hệ thống mạng đang trở nên phổ biến hơn đối với mọi chức năng và ngành công nghiệp của toàn bộ nền kinh tế, từ buôn bán lẻ tới các dịch vụ tài chính để sản xuất và tiếp thị. Điều đó có nghĩa là  kinh tế siêu đẳng đang ảnh hưởng đến các loại hàng hóa, dịch vụ, và người dân hơn bao giờ hết.
Ngay các giám đốc điều hành hàng đầu đã bắt đầu kiếm tiền tương tự như các ngôi sao nhạc rock. Năm 1990, lương một giám đốc điều hành tại Hoa Kỳ là, trung bình 70 lần lớn hơn tiền lương của các người lao động khác; trong năm 2005, là 300 lần lớn hơn. Nói chung, điều này diễn ra trong cùng một hướng trên toàn cầu, mặc dù có khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. Nhiều lực đẩy đang tiếp diễn, bao gồm thuế và những thay đổi chính sách, chuẩn mực văn hóa và tổ chức, lẫn yếu tố may mắn. Nhưng khi nghiên cứu của một trong chúng tôi (Brynjolfsson) và Heekyung Kim cho thấy, một phần của sự phát triển có liên quan đến việc sử dụng rất lớn công nghệ thông tin. Công nghệ mở rộng phạm vi, khả năng tiếp cận và giúp theo dõi nhân sự đưa ra quyết định, gia tăng giá trị của một quyết định đúng đắn qua sự lựa chọn của ông hay bà ta. Quản lý trực tiếp thông qua công nghệ kỹ thuật số làm cho người quản lý giỏi có giá trị hơn so với thời gian trước kia, vì giám đốc điều hành phải chia sẻ quyền kiểm soát với chuỗi dài những thuộc cấp mà họ chỉ có thể ảnh hưởng đến một phạm vi nhỏ các hoạt động [của công ty]. Ngày nay, giá trị thị trường của một công ty càng lớn, thì càng hấp dẫn đối với các lập luận rằng phải cố tìm cho bằng được những giám đốc điều hành hàng đầu để dẫn dắt công ty.
Khi thu nhập được phân phối theo quy luật luỹ thừa, hầu hết mức lương mọi người sẽ nằm dưới mức trung bình, và nền kinh tế quốc gia hiển nhiên đang ngày càng phụ thuộc vào những động lực như vậy, mô hình này sẽ đóng vai trò chính ở cấp quốc gia. Chắc chắn một điều, Hoa Kỳ hiện nay là một trong những quốc gia có mức bình quân đầu người GDP cao nhất thế giới – ngay cả khi thu nhập bình quân của mức giữa cao và thấp, về cơ bản, đã bị đình trệ trong hai thập kỷ qua.
Chuẩn Bị Cho Cuộc Cách Mạng Vĩnh Viễn
Các động lực đang thúc đẩy trong thời đại máy tính thứ hai rất mạnh mẽ, có tính tương tác và phức tạp. Khó có thể nhìn xa vào tương lai để dự đoán một cách chính xác tác động cuối cùng là gì. Tuy nhiên, nếu mỗi cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ hiểu những gì đang xảy ra, ít nhất họ có thể cố gắng điều chỉnh để thích nghi.
Lấy Hoa Kỳ làm ví dụ, cố gắng giành lại một số doanh nghiệp từ câu thứ hai trong kế hoạch kinh doanh tám chữ của Apple [Lắp ráp tại Trung Quốc - Assembled in China] cũng sẽ bị đảo ngược bởi kỹ thuật và phân xưởng sản xuất, một lần nữa, được thực hiện ngay bên trong biên giới Mỹ. Tuy nhiên, câu đầu tiên của kế hoạch [Thiết kế bởi Apple tại Cali - Designed by Apple in California] sẽ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết; và ở đây, mối quan tâm, chứ không phải lòng tự mãn, xếp theo đúng thứ tự trước sau. Có thể là điều không may, sự năng động và sáng tạo đã làm cho Hoa Kỳ trở thành quốc gia tiên tiến nhất trên thế giới, có lẽ đang sút kém.
Tạ ơn cuộc cách mạng kỹ thuật số, việc thiết kế và cải tiến, bây giờ cũng trở thành một phần của khu vực khả thể giao dịch trong nền kinh tế toàn cầu, và sẽ phải đối mặt với cùng một loại cạnh tranh đã biến đổi phương pháp sản xuất. Lãnh đạo về thiết kế phụ thuộc vào lực lượng lao động được đào tạo và một nền văn hóa kinh doanh, lợi thế truyền thống của Mỹ ở khu vực này đang giảm. Mặc dù Hoa Kỳ đã từng một lần dẫn đầu thế giới đối với tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp trong lực lượng lao động, có ít nhất một bằng cử nhân, đã tụt xuống vị trí thứ 12. Và bất chấp những tin đồn về khả năng kinh doanh ở những nơi như thung lũng Silicon, dữ liệu cho thấy từ năm 1996, số lượng công ty Mỹ mới ra đời sử dụng hơn một nhân viên đã giảm hơn 20 phần trăm.
Nếu các xu hướng đang được thảo luận mang tính toàn cầu, tác động của địa phương sẽ định hình, một phần, bởi các chính sách xã hội và đầu tư mà các nước chọn lựa thực hiện, trong lãnh vực giáo dục và trong việc thúc đẩy sự cải tiến và năng động kinh tế càng phổ cập. Trong hơn một thế kỷ qua, hệ thống giáo dục Mỹ là sự ghen tị đối với thế giới, với tính phổ quát là trung học tới lớp 12 và các trường đại học đẳng cấp thế giới đã giữ cho kinh tế tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, giáo dục tiểu học và trung học ở Mỹ ngày càng trở nên không đồng đều, với chất lượng dựa trên mức thu nhập của khu gia cư chung quanh và [thầy cô] thường nhấn mạnh việc lập đi lập lại nhiều lần.
May mắn thay, cách mạng kỹ thuật số tương tự cuộc biến chuyển sản phẩm và thị trường lao động cũng có thể dùng để chuyển đổi nghành giáo dục. Học trực tuyến (online learning) có thể giúp sinh viên tiếp cận với giáo viên, nội dung và phương pháp tốt nhất bất kể họ đang ở đâu, và sự tiếp cận với kho dữ liệu mới vào lãnh vực này sẽ dễ dàng đo lường điểm mạnh, điểm yếu và học sinh có tiến bộ hay không. Điều này sẽ tạo cơ hội cho các chương trình học tập cá nhân được cải tiến liên tục, ứng dụng kỹ thuật thông tin phản hồi, điều đã biến chuyển ngành bán lẻ, sản xuất và địa hạt khám phá rất khoa học.
Thay đổi công nghệ và toàn cầu hoá có thể làm tăng sự giàu có và hiệu quả kinh tế của các quốc gia và thế giới nói chung, nhưng không phải sẽ lợi ích cho tất cả mọi người, ít nhất là trong ngắn và trung hạn. Cụ thể, công nhân bình thường sẽ tiếp tục chịu đựng gánh nặng của sự thay đổi, chỉ hưởng lợi ích như là người tiêu dùng chứ không nhất thiết như một người [trong guồng máy] sản xuất. Điều này có nghĩa rằng nếu không có sự can thiệp mạnh hơn nữa, bất bình đẳng kinh tế có thể tiếp tục tăng, đặt ra một loạt các vấn đề. Thu nhập bất bình đẳng sẽ dẫn đến bất bình đẳng cơ hội, khiến các quốc gia khó tiếp cận với nhân tài và phá hỏng hợp đồng xã hội. Trong khi đó quyền lực chính trị, thường theo sau sức mạnh kinh tế, trong trường hợp này dễ làm cho nền dân chủ yếu đi.
Những thách thức này có thể và cần phải được giải quyết thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng cơ bản chất lượng cao, bao gồm giáo dục, y tế và bảo đảm tài chánh khi nghỉ hưu. Các dịch vụ này rất quan trọng để tạo ra sự bình đẳng thực sự về cơ hội trong một môi trường kinh tế thay đổi nhanh chóng, đồng thời tăng tính di động giữa các thế hệ [để thu ngắn khoảng cách] về thu nhập, tài sản và triển vọng trong tương lai.
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung, có sự đồng thuận từ hầu hết các kinh tế gia rằng nhiều chính sách cần thiết phải được đặt ra. Chiến lược cơ bản thì khá đơn giản nếu môi trường chính trị chưa cho phép: cần tăng cường đầu tư cho hiệu quả hơn vào khu vực công trong ngắn và trung hạn, cùng lúc đưa ra một kế hoạch củng cố tài chính hàng năm trong dài hạn. Đầu tư công được biết là mang lại lợi nhuận cao khi nghiên cứu về y tế, khoa học và công nghệ; trong giáo dục; và chi tiêu cơ sở hạ tầng, giao thông, sân bay, nước máy công cộng và hệ thống vệ sinh môi trường, cũng như năng lượng và mạng lưới thông tin liên lạc. Chính phủ tăng chi trong các lãnh vực này sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hiện nay, ngay cả khi [dự trù] đầu tư của chính phủ sẽ tạo ra sự giàu có thực sự cho các thế hệ tương lai.
Khi cuộc cách mạng kỹ thuật số tiếp tục được đẩy mạnh trong tương lai vì nó đã được chứng minh trong những năm gần đây, cấu trúc của nền kinh tế hiện đại và vai trò của việc làm cần phải được xem xét lại. Như một tập thể, con cháu chúng ta có thể làm việc ít giờ đi và có cuộc sống tốt hơn – nhưng cả hai: công việc và những tưởng thưởng từ công việc có thể bị phân phối không đồng đều với một loạt các hậu quả khó chịu. Tạo sự phát triển bền vững, công bằng và rộng mở sẽ đòi hỏi nhiều cố gắng hơn là một việc kinh doanh bình thường. Để bắt đầu về chuyện đó thì cần phải hiểu biết đúng đắn về mọi thứ đang biến chuyển xa và nhanh, thật sự như thế nào.
Tạ Dzu chuyển ngữ
Nguồn bản tiếng Anh: http://www.foreignaffairs.com/articles/141531/erik-brynjolfsson-andrew-mcafee-and-michael-spence/new-world-order
 
Copyright © 2014. Nhà Báo Nguyễn An Dân - All Rights Reserved
Proudly powered by Blogger